(Các em tham dự Tết Trung Thu Làng VIDA 2025)
“Tết Trung Thu rước đèn đi chơi…”
Nguyễn Trọng Lưu
“Mùa thu”
Cho đến nay, tôi vẫn chưa tìm được một câu trả lời hoàn toàn chính xác và thỏa đáng vì sao người Á Đông – gồm Trung Hoa và những quốc gia chịu ảnh hưởng Trung Hoa như Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam … – lại chọn ngày rằm tháng tám âm lịch hàng năm, để làm một lễ hội riêng cho trẻ em, gọi là “tết trung thu”.
Nhưng điều chắc chắn là “mùa thu” và “mặt trăng” có một chỗ đứng rất gần gũi rất hiện sinh trong đời sống của con người, đặc biệt với người Á Đông.
Nhiều quốc gia ở Âu Tây hàng năm vẫn tổ chức những lễ lớn vào mùa thu – chẳng hạn người Mỹ và người Canada với ”Lễ tạ ơn” (Thanksgiving) và lễ ”Halloween”, còn người Do Thái thì mừng lễ ”Sukkot” – mà nguồn gốc của nó khởi từ lễ hội trăng tròn để tạ ơn Chúa Yahvê đã ban cho một mùa thu hoạch tốt, sau khi đã chế biến thành những món ăn ngon để tiến dâng Ngài trong lều chứa “hòm bia thánh”.
Theo lịch Trung Hoa thì mùa thu bắt đầu được tính từ tiết lập thu và kết thúc vào tiết lập đông – tức khoảng từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 11 dương lịch -, là mùa trong đó phần lớn các loại cây trồng được thu hoạch và bắt đầu rụng lá. Đó cũng là mùa mà thời gian ban ngày ngắn dần lại và trời bắt đầu đổ lạnh. Nhưng bù lại mùa thu lại có một vẻ đẹp rất duyên dáng, như hình ảnh những cơn mưa lá vàng đang rơi trên con đường heo hút đầy mùi hoa sữa khiến các chú nai nhỏ ngơ ngác nhìn quanh, đã gợi hứng cho thi sĩ Lưu Trọng Lư làm bài thơ bất hủ ”Tiếng thu” :
”Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
Mà có lẽ cũng chẳng ai trong chúng ta lại có thể quên được cái yên tĩnh, êm ả của cảnh mùa thu nơi làng quê xóm vắng, mà cụ Tam Nguyên Yên Đổ khi vể hưu đã cảm nhận được trong bài ”Thu điếu” :
”Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
Ấy là chưa kể đến rất nhiều nhạc sĩ đã sáng tác những bài hát nổi tiếng để lồng những tâm tình ấm nóng của mình vào mùa thu chuyển lạnh, như Trịnh Công Sơn với ”Nhìn những mùa thu đi”, ”Nhớ mùa thu Hà Nội”, Phạm Duy với ”Mùa thu chết”, hay Hoàng Trọng với ”Ngàn thu áo tím”…

”Mặt trăng”
”Mặt trăng” – tiếng La tinh gọi là ”Luna” – là hành tinh lớn thứ năm trong hệ mặt trời, và cách tâm trái đất khoảng 384.403 km, với đường kính là 3.474 km, tức chỉ hơn một phần tư đường kính trái đất. Mặt trăng quay một vòng quanh trái đất với chu kỳ quỹ đạo là 27,32 ngày.
”Mặt trăng” là thiên thể duy nhất ngoài trái đất mà cho tới ngày hôm nay con người đã đặt chân tới – mở đầu bằng chuyến bay của vệ tinh nhân tạo Luna 1 lúc đó của Liên bang Xô viết vào năm 1959, nhưng mãi cho tới Luna 9 năm 1966 mới là phi thuyền đầu tiên hạ cánh thành công xuống mặt trăng. Còn Hoa Kỳ – với chương trình Apollo đã thực hiện được nhiều cuộc đổ bộ xuống mặt trăng – tất cả là sáu lần hạ cánh trong giai đoạn từ 1969 tới 1972. Năm 1969, Neil Armstrong và Buzz Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng trong chuyến bay Apollo 11.
Vì là những nước chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề chài lưới – lại dùng chu kỳ của mặt trăng để tính ngày tháng – nên người Á đông rất để ý đến lực hấp dẫn của mặt trăng – thường được gọi là hiện tượng thủy triều, hay bình dân hơn gọi là con nước – để tính toán ngày giờ gieo mạ hay đi lưới cá.
Riêng ánh sáng trăng là một thực tại vô cùng gợi cảm và nên thơ đặc biệt cho người Việt. Mỗi khi nhìn ánh sáng trăng tại Đan Mạch này, là tôi lại chạnh nhớ đến những đêm trăng sáng huyền diệu tại các làng quê, gái trai ngồi ngoài sân gặp gỡ nhau trao đổi tình yêu mới lớn, được ghi lại trong khúc hát sau đây – mà tôi không còn nhớ rõ tựa đề và tác giả nữa: ”trăng soi sáng ngời, treo trên biển đời, tình ơi một đoàn con trai nhủ đoàn con gái ra ngồi nhìn trăng. Câu thơ chú cuội mà lấy tiên nga, cuội ơi ở trên cung vắng cuội không về làng…” . Còn những ai đã sống hay đã từng được đến thăm những ruộng lúa thẳng cánh cò bay tại Cần Thơ, Sóc Trăng và đã được tận mắt nhìn thấy cảnh giã gạo đêm trăng qua nhưng câu hò đáng yêu của các đôi trai tài gái sắc, mới thấy trăng là một phần của đời người Việt, không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới – như những bài ”Gạo trắng trăng thanh” hay ”Trăng rụng xuống cầu” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mô tả.
Nhưng có một điều rất lạ mà chính tôi cũng không hiểu tại sao – là người Việt chúng ta có khi nhân cách hóa ”mặt trăng” như một người đàn ông, – chẳng hạn trong bài hát ”Ông trăng xuống chơi cây đa” hay trong câu ca dao ” Ông trăng mà lấy bà trời” – mà cũng có khi lại ví von mặt trăng với một người con gái đẹp :”Này cô Hằng Nga, thướt tha trên ngàn hoa…”.
Tiện đây, tôi chỉ muốn ghi chú rằng, Hằng Nga – hay chị Hằng – chỉ là một nhân vật thần thoại trong huyền thuyết của người Trung Hoa, chứ không phải là nữ thần của mặt trăng như nhiều người vẫn lầm tưởng. Không giống như các vị thần mặt trăng đã được nhân cách hóa của các nền văn minh
khác, Hằng Nga chỉ là một “người phụ nữ sống trên mặt trăng” mà thôi. Hằng Nga, sau khi cùng với chồng là Hậu Nghệ đã bị đày xuống gian trần vì tội bắn chết mười con quạ vàng – tức kim ô – của Ngọc Hoàng, sau nhờ Tây Vương Mẫu đã tìm được một viên thuốc trường sinh mà mỗi người chỉ cần uống một nửa cũng đã đủ để sống trường sinh bất tử. Nhưng cũng vì tội tò mò như Pandora trong huyền thoại Hy Lạp, nên Hằng Nga đã lấy viên thuốc đó và nuốt trửng cả viên. Phiền một nỗi, vì độ thuốc quá mạnh, nên Hằng Nga đã bay bổng lên tới tận cung trăng, ở đó nàng gặp con thỏ ngọc và Ngô Cương, là một tiều phu đốn củi cũng đang bị đày nơi cung trăng.
“Tết trung thu” và một số tập tục truyền thống
“Tết trung thu” đã có nguồn gốc ngay từ thời đời Đường – và vì được tổ chức vào rằm tháng 8 âm lịch, là tháng thứ hai của mùa thu, nên ngày xưa còn được gọi là ”tết trọng thu” hay “tết trông trăng”. Vào dịp này, cha mẹ sẽ làm tiệc cho các con để mừng trăng thu. Tiệc mừng trăng thu gồm bánh trung thu – bánh nướng hay bánh dẻo -, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả trong mùa. Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác. Cha mẹ cũng còn mua hay làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn – mà đặc biệt là đèn kéo quân.
Chuyện kể rằng ”ngày xưa, gần đến dịp tết Trung thu, theo lệnh Vua, dân chũng nô nức thi nhau chế ra những chiếc đèn kỳ lạ nhưng không có chiếc đèn nào làm cho Vua vừa ý. Bấy giờ, có một nông dân nghèo khó tên là Lục Đức. Lục Đức mồ côi cha, ăn ở với mẹ rất hiếu thảo. Một hôm nằm mơ, Lục Đức thấy một vị thần râu tóc bạc phơ hiện ra phán rằng: ”Ta là Thái Thượng Lãn Quân, thấy nhà ngươi nghèo khó nhưng ăn ở hiếu thảo với mẹ, vậy ta bày cho ngươi cách làm chiếc đèn dâng Vua”. Hôm sau theo lời dặn của Thần, Lục Đức cùng mẹ lấy những thân trúc trắng cùng giấy màu để làm chiếc đèn. Thời gian qua mau, khi chiếc đèn làm xong là ngày rằm tháng 8 cũng vừa đến. Chàng vui mừng cùng mẹ đem chiếc đèn vào kinh thành dâng vua. Nhà Vua xem, thấy chiếc đèn vừa lạ, vừa nhiều màu sắc lại biết chuyển động nên rất hài lòng. Khi Vua hỏi ý nghĩa của chiếc đèn, Lục Đức theo lời Thần tâu rằng: ”Thưa bệ hạ, thân trúc ở giữa đèn là biểu hiện trục khôn, cái chong chóng quay sáu mặt biểu tượng cho sáu cá tính của con người: thương, ghét, giận, buồn, vui, hờn. Cái chong chóng quay luôn luôn, tượng trưng cho con người hay thay đổi cũng có căn do, đó là đạo làm người. Chong chóng quay luôn cũng nhờ ánh đèn soi sáng, thì con người tốt lành cũng nhờ đạo đức. Sáu mặt của chiếc đèn làm bằng giấy tươi sáng biểu hiện những cá tính của con người”. Vua truyền đem đèn cho dân chúng cùng xem. Đèn đốt lên làm quay chong chóng. Hiện lên sáu màu sắc rực rỡ là hình ảnh vua, quan, người, ngựa nối đuôi nhau. Tất cả những hình nhân trên đèn được làm bằng giấy nhờ sự khéo léo của mẹ con Lục Đức. Vua ban thưởng cho mẹ con chàng rất hậu và phong cho Lục Đức làm Văn Hộ Hầu. Từ đó, mối khi đến tết Trung thu, nhớ lại sự tích người con hiếu thảo Lục Đức dân chúng đua nhau bắt chước chàng làm nên những chiếc đèn màu rực rỡ gọi là đèn kéo quân”.
Về sau, vì bận công việc làm ăn sinh sống, nên các cha mẹ thường chì làm những đèn gơn giản, như đèn ngôi sao, đèn quả ấu hay đèn cá chép mà thôi.
Ngày xưa, tết trung thu ở miền Bắc còn có tục Hát Trống Quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình”. Đôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng “thình, thùng, thình” làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận tức là hát theo vần, theo ý hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc.
Nhưng thông thường người ta hay tổ chức múa lân, múa sư tử, múa rồng để các em vui chơi thoả thích.
”Múa lân, múa sư tử, múa rồng” – tuy có khác nhau đôi chút – nhưng cả ba đều là những môn nghệ thuật múa dân gian ở đường phố khởi nguồn từ Trung Hoa và thường được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu, vì ba con thú này tượng trưng cho thịnh vượng, phát đạt, hạnh phúc.
Trong màn trình diễn múa lân, múa sư tử, múa rồng, thì không thể thiếu ” ông địa”, một người bụng phệ, mặc áo dài đen, tay cầm quạt giấy to phe phẩy, đầu hói tròn, cười toe toét đi theo giỡn lân, giỡn khách xem múa hoặc mua vui cho gia chủ. Ông địa được xem là hiện thân của Đức Di Lặc, một vị Phật lúc nào cũng tươi vui hiền lành. Truyền thuyết kể rằng Đức Di Lặc đã hóa thân thành người và chế ngự được một quái vật từ dưới biển lên bờ phá hoại. Đức Di Lặc hóa thân thành người, gọi là ”ông địa”, lấy cỏ linh chi trên núi cho quái vật ăn và khắc phục được nó, biến nó thành con thú ăn thực vật. Từ đó, mỗi năm ”ông địa” lại dẫn nó xuống núi chúc tết mọi người, chứng tỏ quái thú đã thành thú lành, cái ác trở thành cái thiện. ”Ông địa” và con lân đi đến đâu là giáng phúc tới đó nên nhà nào cũng hoan hỉ treo rau xanh và giấy đỏ đón chào.
Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, tết trung thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị :
”Muốn ăn lúa tháng năm, trông trăng rằm tháng tám”.
”Tỏ trăng mười bốn được tằm, đục trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”.
Chúng ta cũng không thể không nhắc đến ở đây một nhân vật quan trọng liên quan tới trăng rằm tháng tám, đó là chú Cuội, trong truyền thuyết “chú Cuội ngồi gốc cây đa”. Lúc trăng tròn, những chỗ lõm của mặt trăng được nhìn thấy có hình dạng nối liền giống như một cây đa nên câu chuyện này ngày càng được mọi người nhắc đến:
”Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về.
Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:
– Trời ơi! Cây này chính là cây có phép “cải tử hoàn sinh” đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó!
Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong.
Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi.
Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn.
Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội.
Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được.
Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa.
Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!”. Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay.
Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.
Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng.
Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc. Người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa”.
”Tết trung thu” và ”triết lý tam tài”
Như chúng tôi vừa phân tích ở trên, ”mùa thu” và ”mặt trăng” là những phạm trù rất hiện sinh và thân quen với người Việt – cho nên dù có sống tha hương ở hải ngoại, thì mãi mãi nhưng phạm trù đó lúc nào cũng khắc sâu trong tâm lòng người Việt chúng ta.
Sở dĩ ”Tết trung thu” lúc nào cũng thân tình và linh động trong lòng người Việt – cho dù ở trong nước hay sống ở đất khách quê người – là vì ”Tết Trung Thu” ẩn chứa được những yếu tố của ”triết lý tam tài” là căn bản của triết Việt. Bộ ba ”thiên”, ”địa”, ”nhân”, được biểu trưng qua ”trăng rằm” – (”thiên”) hoa màu ruộng đất hay hoa trái, gạo, đậu xanh (”địa”) – và việc gặp mặt, hội ngộ với hết mọi người thân thương – (”nhân”). Ba yếu tố căn bản làm thành triết lý thái hòa, triết lý an vi của người dân Việt, mà gọi một cách khác là ”hồn Việt”.
Chuyện về ” Đèn kéo quân” cũng hé mở cho chúng ta thấy cài tàng ẩn của triết lý tam tài. ”Thiên” – tức Thái Thượng Lãn Quân, ” Địa” – là thân trúc và giấy màu, và ”Nhân” là mẹ con Lục Đức , những người sống tốt lành. Ánh sáng của ” đèn kéo quân” cũng chính là ánh sáng của triết lý tam tài sẽ soi dẫn con người sống đạo đức, giữa những thay đổi thuờng hằng trong vũ trụ.
Riêng về nhân vật ”chú Cuội”, có nhiều chuyện kể khác nhau, cho ”Cuội” là người hay nói dối để trêu chọc người khác – giống như kiểu ”poisson d´avril” hay ”aprilsnar” – mà vì thế mới có câu””nói dối như cuội” – nhưng nhìn theo một khía cạnh khác, chúng ta thấy ”Cuội” (tức thành tố ”nhân”) là ngưòi có lòng tốt luôn đi cứu sống người chết, lá cây làm người chết sống lại (tức ”địa”) và vị lão ông dạy bảo cho cuội về cây thuốc quý là biểu trưng cho ”thiên”. Việc kết hợp của cả ba yếu tố này làm nổi bật lên tríết lý an hòa của người Việt.
Ngay cả việc ” múa lân, múa sư tử, múa rồng” cũng là một hòa hợp của triết lý tam tài: ”thiên” – được trình bày qua nhân vật ”ông địa”dược coi là hiện thân của Đức Phật Di Lặc -, cỏ linh chi trên núi tức ”địa” và ngưòi múa lân chính là ”nhân” – mà cũng do vậy ”múa lân, mùa sư tử, múa rồng” chính là biệu hiệu của triết lý an vi, mang lại an vui hạnh phúc, khang an, thịnh vượng cho con người.
Chính vì thế, nếu chỉ lập đi lập lại một cách máy móc những tục lệ cổ xưa của ”tết trung thu” mà lãng quên đi cái hồn Việt ẩn tàng trong đó, thiết nghĩ chúng ta đã vô tình làm mai một cái ý nghĩa siêu linh của một lễ hội – gọi là ”đạo làm người”- như trong truyện đèn kéo quân chúng ta vừa đọc ở trên. Cái đèn mà bậc cha mẹ làm cho con em và đốt sáng lên để rước, phải là đèn ”hồn Việt”,
đèn chứa ẩn triết lý tam tài, đèn nối kết hết mọi người Việt lại với nhau trong ngôi nhà Việt Nam, là ngôi nhà chỉ sáng, chỉ sống và chỉ ấm bằng trái tim Việt Nam mà thôi. Phải chăng đó là ước mơ thầm kín được lồng trong bài hát ”Rước đèn trung thu”:
”Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca trong ánh trăng rằm
Đèn ông sao với đèn cá chép
Đèn thiên nga với đèn bướm bướm
Em rước đèn này đến cung trăng
Đèn xanh lơ với đèn tím tím
Đèn xanh lam với đèn trắng trắng
Trong ánh đèn rực rỡ muôn màu ”

