Mary gave refugees hiding in a jungle a natural remedy

Nguyễn Trọng Lưu

 

 

Tước hiệu ”Nữ Vương các thánh tử đạo”

 Trong ”kinh cầu Đức Bà Loretto” chúng ta đã thấy có tước hiệu Nữ Vương các thánh tử đạo” để kính tôn Đức Mẹ. Kinh cầu này đã xuất phát ngay từ năm 1558 từ đền Thánh Đức Mẹ Loretto (Ý) và sau đó được Đức Giáo Hoàng Sixtô V phê duyệt và truyền công bố trong toàn thể Giáo Hội vào năm 1587.

Nhiều người ngày nay nghĩ rằng tước hiệu này đã lỗi thời. Một phần vì ngày nay còn rất ít quốc gia có vua – mà còn dùng dùng tước hiệu này thì quá là lạc hậu! Hơn nữa tại sao không chú ý đến sự liên đới của Mẹ Maria với người nghèo – để trình bày năng lực và phẩm giá của Mẹ như một phụ nữ hơn là tặng cho Mẹ một tước hiệu khá xa với đời thường của Mẹ?

Nhiều người còn đặt thành vấn đề: Mẹ Maria đâu có hiến mạng sống mình trên Thánh Giá, mà Mẹ cũng không chết để làm chứng cho đức tin ở pháp trường, trước mặt đao phủ hay trong tù ngục – vậy tại sao lại tôn vinh Mẹ là ”Nữ Vương các thánh tử đạo”?

Như vậy cần phải hiểu Mẹ Maria là một vị tử đạo theo nghĩa nào, và tại sao chúng ta lại xưng tụng Mẹ là vị tử đạo trổi vượt hơn mọi vị tử đạo: Mẹ là ”nữ vương các thánh tử đạo”?

 

Nguyên ngữ của từ ”tử đạo”

Từ “tử đạo – martyr” phát sinh từ tiếng Hy Lạp: μάρτυς” – nghĩa là “nhân chứng”. ”Thánh tử đạo” – là những người chịu bách hại hoặc chịu chết trong khi quyết giữ đức tin của mình. Đôi khi chúng ta hiểu lầm rằng chỉ qua cái chết trực tiếp vì Chúa mới là tử đạo. Chúa Giêsu, trong tám mối phúc thật, đã đưa ra tiêu chuẩn không chỉ sống đạo để nên thánh, mà còn là thánh tử đạo.

 “Phúc thay ai tâm hồn nghèo khó, vì nước Trời là của họ.”

“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì nước Trời là của họ.”
“Phúc cho anh em khi 
 Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5, 1; 10-12).
Hãy vui mừng khi thấy chúng ta không thiếu những vị tử đạo thời mới đang chịu bách hại vì công chính, vì người nghèo, vì người bị áp bức, vì tự do phải có, vì bảo vệ nhân quyền, vì sống bác ái, vì sống lời dậy dỗ của Chúa trong thánh kinh.

Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói rằng “các vị tử đạo là những người không thể thiếu cho việc tăng trưởng Tin Mừng” (Redemptoris missio 45). Thiên Chúa vẫn cần đến chúng ta như những “khí cụ” hữu hiệu trong việc rao giảng Tin Mừng trên quê hương đất nước chúng ta và trên toàn thế giới.

Cuộc tử đạo của Mẹ Maria: đứng dưới chân thánh giá

Chúng ta không thể quên lời Đức Thánh Cha Piô IX đã nhấn mạnh đến sự kiện Mẹ Maria đứng bên thập giá: “Như một phụ nữ can trường Mẹ đã trèo lên đỉnh Golgotha… Mẹ rất thánh đã cất cao đầu đứng dưới chân Thánh Giá”

Chúng ta có thể nói về “sự can trường dịu dàng” của Mẹ trước Thập Giá. Trái tim rách nát nhưng Mẹ vẫn tiếp tục đứng như một chứng nhân cho Đấng chịu đóng đinh. Mẹ tiếp tục làm chứng cho Chúa, Đấng mà xưa kia Mẹ từng ẵm bế trên tay! Thánh Ambrosio nói về Mẹ: “Đức Mẹ đã đứng trước Thập Giá trong khi các nam nhân bỏ trốn!”

Chúng ta có thể thấy hằng ngày: các bà mẹ vẫn ở lại bên con mình lúc đang hấp hối – bất kể những khổ đau khủng khiếp họ phải chịu. Họ tìm thấy sự can đảm để an ủi con cái mình đang chết đói hoặc đang trào máu từ các vết thương. Họ không kể nỗi khổ riêng họ là gì; tất cả vấn đề là họ phải đứng bên đứa con đang đau khổ.

Từ viễn cảnh đó chúng ta có thể thấy Mẹ Maria đã có lòng can đảm đặc biệt của các bà mẹ đối với con cái. Nhưng tại Golgotha có một cái gì đó xảy ra còn sâu xa hơn nữa. Mẹ đã đem lại chứng từ cho chân lý được mạc khải trong cái chết của con Mẹ. Mẹ đứng như một chứng nhân cho tất cả điều Chúa đã nói và đã làm cho sứ mạng Ngài, sứ mạng kết liễu trong hy lễ “xóa tội trần gian”. Mẹ, người đã nghiền ngẫm những ý định và Lời Chúa trong tâm hồn, bây giờ đang làm chứng cho chân lý và quyền năng của thánh ý và Lời Chúa, khi Mẹ chịu đau khổ với Chúa Kitô bên Thánh Giá: “Các con sẽ là chứng nhân của Thầy”.

 

Chúng ta hãy suy nghĩ sâu xa hơn về chứng từ can đảm của Mẹ Maria.

 Trước hết chúng ta hãy đặt chứng từ của Mẹ đối diện với sự nhút nhát của các tông đồ – ngoại trừ Gioan – là những người, đã bỏ trốn khi “giờ” của Chúa Giêsu đến. Mẹ Maria đã có mặt tại tiệc cưới Cana khi Chúa Giêsu nói: “Giờ tôi chưa đến”. Bây giờ giờ của Ngài đã đến, Mẹ lại có mặt không chỉ như một người mẹ bị làm phiền lòng nhưng còn như một môn đệ: Mẹ là người, hơn bất cứ ai, đã có thể tham dự trọn vẹn vào “giờ” của Chúa Giêsu. Chinh vì thế Peter John Olivi đã không ngần ngại nói rằng Mẹ Maria đã bị đóng đanh với Chúa Kitô. Mẹ Maria luôn hiện diện bên Chúa Kitô trong tất cả các mầu nhiệm của cuộc đời Ngài nên Mẹ không thể xa cách Ngài trong giờ lâm tử.

Mẹ chia sẻ “giờ” của Ngài với sự hiểu biết nội tâm sâu xa nhất. Mẹ đứng trước Thập Giá với điều mà Thánh Phaolo gọi là “sự hiểu biết các mầu nhiệm”. Sự hiểu biết của Mẹ không phải là một sự hiểu biết theo lý thuyết, với những luận đề phân tích khó nhọc nhằm làm khuây khỏa niềm đau. Nhưng Mẹ đem đến cho Thập Giá một trực giác sâu xa, một sự hiểu biết đồng cảm về sự thật và sức mạnh của Thập Giá: sự hiểu biết thực sự đưa đến kết hợp. Đối với Mẹ, kế hoạch bí mật dấu kín của Thiên Chúa đã được khai mở trong sự phong phú lòng lành và sự sung mãn quyền năng. Đối với Mẹ chúng ta có thể nói ngay rằng: “Phúc cho mắt các con vì đã được thấy; phúc cho tai các con vì đã được nghe”.

Điều quan trọng chúng ta phải nhấn mạnh rằng Mẹ Maria đã thực sự chịu tử đạo. Thánh Bernado quả quyết Mẹ chịu tử đạo và Ngài nói thêm: “Mẹ còn hơn cả một vị tử đạo”. Điều mà Mẹ quý trọng trong trái tim, Mẹ đã tuyên xưng bằng cả cuộc sống. Sự hiểu biết của Mẹ không phải là một sở hữu riêng tư, một bí mật niêm phong, nhưng là một chân lý được khẳng định, được sống, được thực hiện ra bên ngoài. Chúa Giêsu đã bảo các môn đệ Ngài rao giảng trên mái nhà điều mà họ đã nghe nơi kín đáo. Mẹ Maria còn làm hơn thế nữa. Mẹ không chỉ rao giảng điều đó mà qua sự cầu bầu và gương sáng, Mẹ đã làm phát sinh điều đó nơi mỗi người chúng ta: Mẹ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Sự hiểu biết rất sâu xa ấy là một sự kết hợp thực sự: Chúa Kitô thực sự sống trong ta. Cả hai như là chứng từ đức tin và, như một người Mẹ: Mẹ Maria tăng cường đức tin trong chúng ta, những người được Cha hằng hữu thừa nhận làm nghĩa tử.

Vì lý do đó, Mẹ Maria là một vị tử đạo. Mẹ là vị tử đạo trổi vượt, là Nữ Vương các thánh tử đạo! Chiều xưa ấy, đứng gần Thập Giá không ai đã thấy Mẹ Maria mà dám mơ tưởng tặng cho Mẹ danh hiệu Nữ Vương này. Những người phán đoán theo cái bên ngoài đã chỉ thấy Mẹ chịu đau khổ chứ không thấy được phẩm giá của Mẹ. Tuy là người phàm nhưng Mẹ sầu bi vẫn kiên vững bên con mình ngay cả khi Ngài kêu lên: “Lạy Chúa, Lạy Chúa, sao lại bỏ tôi?” Việc Mẹ tan hòa với lễ hy sinh của Người tôi trung đau khổ làm cho Mẹ đáng được danh hiệu “Nữ Vương”. Mẹ là Nữ Vương các thánh tử đạo vì mẹ làm chứng cho người tôi trung đau khổ, người đã bỏ mạng sống vì tình yêu. Mẹ là Nữ Vương bởi cuộc đời Mẹ đã báo trước những lời thánh Phaolô sẽ viết cho Timôthê: “ Đây là lời chắc chắn: ‘Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ cùng sống với Ngài’”. Đó là cách hiểu đúng đắn về phẩm chức vương quyền của Mẹ. Phục vụ là cai trị.

Ngày nay Chúa Giêsu cũng nói với chúng ta: “Các con sẽ làm chứng cho Thầy tại Giêrusalem, khắp Giuđea và cho đến tận cùng trái đất”. Ơn gọi của chúng ta là lấy cuộc sống để rao giảng Chúa Kitô, Đấng mà chúng ta làm cho hiện diện bằng Lời và bằng Nhiệm tích. Cho dù chúng ta có giữ trách nhiệm gì trong Giáo Hội đi nữa thì cũng chỉ có một điều thiết yếu duy nhất: là làm chứng cho Chúa Kitô! Chúng ta không thể chu toàn được việc đó nếu không có Mẹ Maria đứng bên và hiện diện trong chúng ta như một người Má và như chứng nhân tuyệt vời. Nhờ lời Mẹ cầu bầu chúng ta sẽ liên lỉ được nấp bóng Thánh Linh, Đấng thông ban và đổi mới trong chúng ta sự hiểu biết các Mầu nhiệm. Chúng ta cần phải có thứ tri thức tặng sinh và tiềm mật như thế, đó là một hỗn hợp giữa hiểu biết yêu thương và đau khổ phát xuất từ đức tin. Trái tim chúng ta phải được đốt cháy bằng lửa của Thánh Linh để không bao giờ ngần ngại phát biểu chân lý trong tình yêu. Tâm hồn chúng ta phải được liên kết – thật vậy được tan hòa – với các mầu nhiệm tặng sinh mà chúng ta cử hành khi dâng hy lễ Canvê và bước vào cuộc phục sinh thánh phúc của Ngài. “Các con sẽ là chứng nhân của Thầy”. Toàn bộ cuộc sống ta là để phục vụ các mầu nhiệm, và Đức Maria Nữ Vương các thánh tử đạo cùng đứng với chúng ta cũng như với Con của Mẹ!

Chúng tôi muốn nêu lên một sự kiện đặc biệt đã gắn kết ý nghĩa việc tử đạo của Mẹ vào tháng 8 – là tháng có lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Đan Mạch có lẽ là quốc gia duy nhất trên thế giới – vào trung tuần tháng tám hàng năm, người công giáo Việt Nam đã đưa lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào ngày lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời. Bởi lễ thánh tử đạo Việt Nam thường được mừng kính vào cuối tháng 11 hàng năm – nhưng vào cuối tháng 11, khí hậu Đan Mạch đã bắt đầu đi vào mùa đông, rất lạnh và đôi khi đường đóng băng, có thể gây nguy hiểm khi lái xe – nên Đức Giám Mục Hans Ludwig Martensen (07.08.1927-13.03.2012) đã cho phép người công giáo Việt Nam thuộc giáo phận Đan Mạch của Ngài được mừng kính lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam vào tháng tám – và lần đầu tiên vào ngày 27.08.1983 – tại khuôn viên tu viện Dallum, Odense.