Saint of the Day – 24 July – Our Lady, Mother of Mercy – AnaStpaul

 

Nguyễn Trọng Lưu

 

Tiệc cưới Cana: dấu hiệu đầu tiên về “Mẹ của lòng xót thương”

 Phúc Âm Thánh Gioan đoạn 2, 1-11 viết rằng – trong khi Chúa Giêsu và Maria Mẹ Ngài đang tham dự tiệc cưới tại Cana thì chủ nhà hết rượu. Ngay lúc đó, Mẹ đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Họ hết rượu rồi”. Chỉ một câu nói tràn đầy lòng xót thương này của Mẹ đã khiến Đức Giêsu làm phép lạ biến nước lã thành rượu để làm trọn niểm vui của cô dâu chú rể và các khách mời (Gioan 2, 6-10).

Sau này trong kinh cầu Đức Bà Loretto – được ghi nhận là hình thành vào năm 1558 – đã có đến năm mươi mốt tước hiệu được ghi lại – gợi lên cho các tín hữu tâm tình ngợi khen, chúc tụng, cảm mến, tôn vinh và cầu xin Mẹ Maria – khi vui cũng như lúc gặp gian nan thử thách trong hành trình đức tin. Mặc dầu trong số các tước hiệu đó, chúng ta không thấy có tước hiệu nào trực tiếp gọi Mẹ Maria là “Mẹ của lòng xót thương” – thế nhưng, suy tư kỹ những tước hiệu đó, chúng ta nhận thấy tất cả đều hàm chứa và làm sáng tỏ lòng xót thương của Mẹ mà chúng ta đang tìm hiểu ở đây. Chẳng hạn: “Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa; Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành; Ðức Nữ có lòng khoan nhân; Ðức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn; Ðức Bà bầu chữa kẻ có tội; Ðức Bà yên ủi kẻ âu lo; Ðức Bà phù hộ các giáo hữu; Nữ vương ban sự bằng an”.

Nguồn gốc kinh ”Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành …”

 Vào khoảng thế kỷ 11, ở nước Đức, có một gia đình sang trọng, thực hành đời sống đạo tốt lành. Gia đình ấy sinh được một con trai, đặt tên là Herman. Herman lọt lòng với một hình thù xấu xí – tàn tật: người lùn tịt, lại thọt một chân, miệng méo, lưng còng, nói năng thì ngọng nghịu với dáng bộ ngờ nghệch, tâm trí lại u mê tăm tối.

Lên 16 tuổi, Herman mới đủ trí khôn để nhận thấy mình tàn tật và kém thua chúng bạn. Kể từ đó, Herman ngày ngày cầu xin Đức Mẹ cứu chữa cho mình mà không chút ngã lòng.

Một hôm, Herman lại đến trước bàn thờ Đức Mẹ và kêu van như mọi khi. Lần ấy, Đức Mẹ đã nhận lời và chữa lành cho cậu, lại còn phù hộ cho cậu được trí thông minh cách lạ lùng.

Sau này, khi đã trở thành thầy dòng Biển Đức (+1054), ở tu viện Reichenau, vùng Bodensee, miền Nam nước Đức, để nhớ ơn Đức Mẹ, Herman đã viết lại những tâm tình trong lần cầu nguyện đặc biệt đó bằng tiếng Latinh – một lời cầu nguyện tha thiết, tạ ơn và tràn lòng yêu mến – nhờ vậy mà ngày nay Giáo Hội có được bản kinh vô cùng ý nghĩa – “kinh Salve Regina – kinh Lạy Nữ Vương”.

Qua kinh ”Salve Regina – kinh Lạy Nữ Vương” này, chúng ta thấy rất rõ Mẹ Maria là “Mẹ của lòng xót thương”: chúng con ở nơi “khóc lóc, than thở với rên la, trong lũng đầy nước mắt”, và chúng con cầu xin Mẹ “đưa mắt nhân từ nhìn đến đoàn con đang kêu cầu Mẹ”.

Trong tiếng Do Thái, ý tưởng này được diễn tả qua từ ”hesed” – thường được dịch trong Cựu Ước là “tình yêu trước sau như một” hoặc “lòng nhân từ vững bền”.

Ngay từ thời kỳ đầu của mặc khải của Do Thái giáo – Kitô giáo, ”hesed” đã được hiểu là phẩm tính vĩ đại nhất của Thiên Chúa được mô tả trong Torah. Torah (tiếng Hebrew: תּוֹרָה, “hướng dẫn”; “dạy dỗ”) là khái niệm căn bản trong truyền thống Do Thái giáo – là lời mời gọi cùng với giao ước của Thiên Chúa với dân ngài để hình hình thành nên dân riêng của Chúa.

Sách ”Xuất hành” ca ngợi “Lạy Chúa! Lạy Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi” (Xh. 34, 6-7). Điệp khúc này vang lên trong các sứ điệp của các ngôn sứ – như ngôn sứ Giôna kêu lên: “Con biết rằng Ngài là Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, và hối tiếc vì đã giáng hoạ” (Gn. 4, 2). Ngôn sứ Mikha ca ngợi rằng Chúa là “Đấng chịu đựng lỗi lầm, Đấng bỏ qua tội ác cho phần con người: Người không giữ mãi cơn giận, nhưng chuộng lòng nhân nghĩa,” (Mk. 7, 18). Ý tưởng này còn kéo dài tới mãi tới thời kỳ hậu lưu đày – khi ngôn sứ Nêhêmia cầu nguyện nhắc nhở dân Istael về những tội lỗi của họ: “Nhưng Chúa là Thiên Chúa luôn sẵn sàng thứ tha, Ngài từ bi nhân hậu, chậm giận, giàu tình thương, đã không bỏ rơi họ” (Nkm. 9, 17).

Phẩm tính thánh thiêng này đã đạt đến sự viên mãn trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô, sự nhập thể của tình yêu thương xót và vững bền của Chúa Cha. Lời dạy về Đấng Mêsia của Chúa Giêsu đầy dẫy những ý tưởng, những chân lý, tạo nên chính định nghĩa về lòng thương xót. Ngài liên tục hành động theo những cách thể hiện sự chiếu cố và lòng trắc ẩn của Chúa, đặc biệt là đối với những người đau khổ. Đây chính xác là lý do tại sao Chúa chúng ta đã trích dẫn Isaia để vạch ra con đường Ngài sẽ thực hiện sứ mệnh của mình: “Ngài đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức” (Lc 4, 17-21).

Nhưng trên thập giá, Chúa Giêsu lại đã trao chính Mẹ của Ngài cho người môn đệ yêu dấu, là người đại diện cho toàn nhân loại. Vậy thì chúng ta có thể kết luận rằng Chúa Giêsu và Cha Trên Trời của Người có ý định để Đức Maria phục vụ như là ”Mẹ của lòng xót thương”. Mẹ tham gia mật thiết vào việc tuôn đổ lòng xót thương, là người cầu bầu và là sứ giả, giống như mọi người mẹ tốt lành đối với con cái của mình.

Ngay từ giữa thế kỷ thứ ba – khoảng năm 250 sau công nguyên – người Kitô hữu đã kêu cầu sự chuyển cầu và bảo trợ của Mẹ Maria trong cơn hoạn nạn. Có một lời kinh cổ xưa dâng lên Mẹ, ban đầu được sáng tác bằng tiếng Hy Lạp – tiếng La tinh là ”Sub Tuum”, còn tiếng Việt là ”Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời”. Lời kinh này đặc biệt kêu cầu lòng xót thương của Mẹ giải thoát các con cái của Chúa khỏi nguy hiểm và khó khăn. Còn kinh ”Salve Regina – Lạy Nữ Vương” – người công giáo thường đọc khi kết thúc Kinh Mân Côi, hoặc vào lúc kết thúc kinh tối của ”Giờ kinh phụng vụ” – và đôi khi vào cuối các Thánh lễ – được sáng tác và biên soạn vào khoảng đầu thế kỷ thứ mười hai: ”Kính chào Đức Nữ Vương, Bà là mẹ xót thương, Ngọt ngào cho cuộc sống, kính chào lẽ cậy trông”.

Ngày nay, khi lòng xót thương trở nên vô cùng cần thiết, Mẹ Maria đã mang đến nhiều thông điệp ngập tràn tinh thương cho thế giới – qua các lần hiện ra từ thế kỷ 19. Năm 1830, Đức Mẹ đã hiện ra tại Paris – Rue de Bac, với Sơ Catherine Labouré. Điểm cốt lõi trong những lần hiện ra này là nêu lên sự cần thiết và lợi ích của việc chạy đến xin Mẹ chuyển cầu cho một thế giới đang chìm vào bóng tối”.

Gần ba thập kỷ sau, vào năm 1858, Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, ở dãy núi Pyréné của Pháp – và phần đáng nhớ nhất trong thông điệp của Mẹ lại liên quan đến lòng thương xót và lòng trắc ẩn. Từ giữa thế kỷ XIX, những người bệnh và những người khuyết tật từ khắp nơi trên thế giới hành hương đến địa điểm Lộ Đức – nơi đó một suối nước kỳ diệu chữa lành bệnh tật đã xuất hiện. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ là các phép lạ chữa lành luôn đi kèm với lời kêu gọi hoán cải tâm hồn.

Vào năm 1917, khi hiện ra tại Fatima, Bồ Đào Nha với Lúcia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto – Mẹ Maria đã yêu cầu ba trẻ em này hãy hướng lòng lên Chúa Giêsu qua sự sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ. Mỗi lần hiện ra như thế, Mẹ đều thông truyền trái tim nhân từ của Thiên Chúa, tràn đầy sự dịu dàng vững bền dành cho những người phải đối mặt với các bệnh tật về thể xác và tinh thần. Tất cả đều cho thấy Mẹ Maria là một người mẹ dịu dàng và nhân từ, muốn hướng con cái mình đến trái tim nhân từ và thánh thiện của Người Con Thiên Chúa, và là Đấng cầu bầu cho thế giới có nhiều người đang phải chịu vô vàn đau khổ về thể xác và tinh thần

 

Tước hiệu “Mẹ của lòng xót thương”

Chúng ta cũng vẫn thường kêu cầu Mẹ Maria với tước hiệu “Mẹ hằng cứu giúp”. Các tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế cổ võ lòng sùng kính, mến yêu và cầu khẩn Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trong các nhà thờ và nhà nguyện dòng Chúa Cứu Thế, bức ảnh “Mẹ hằng cứu giúp” luôn được đặt ở vị trí trang trọng đặc biệt. Hằng ngày có đông đảo mọi thành phần dân Chúa đến chiêm ngắm, tôn vinh và khẩn nguyện cùng Mẹ. Tước hiệu đó cũng nói lên Mẹ là Mẹ của lòng xót thương – bởi lẽ, Đức Maria được đặt trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa: khi đến thời viên mãn, Ngôi Lời đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ – do quyền năng của Thánh Thần, ngõ hầu loài người được trở nên con cái Thiên Chúa.

Còn thánh Don Bosco gọi Mẹ là “Mẹ phù hộ các giáo hữu”.

 Ngày nay, chúng ta thấy hình ảnh “Mẹ của lòng xót thương” được biểu thị đặc biệt qua tượng “Đức Mẹ ban ơn” – còn được biết đến với những tên gọi khác như: ”Đức Mẹ Mề Đay Huyền Nhiệm”; ”Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” – có nguồn gốc từ việc thánh nữ Catarina Laboure đã nhìn thấy Maria: đôi bàn tay dịu hiền của Mẹ giang rộng, sẵn sàng ban ơn, cứu giúp mọi người đến cầu khấn. Chiếc áo choàng nhẹ phủ lên cánh tay Mẹ như biểu tượng của sự che chở và lòng xót thương của Mẹ đối với đàn con thương yêu. Ánh mắt của Mẹ cùng với ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn đến nỗi khổ đau của chúng ta, giúp chúng ta vững tin vào tình yêu Thiên Chúa. Vì yêu thương, Mẹ đã hiện ra tại nhiều nơi, trong nhiều thời đại, dưới nhiều hình thức và hoàn cảnh, để chở che, ủi an, đỡ nâng, cứu giúp con cái Mẹ trong những lúc gian truân ngặt nghèo, và mời gọi con cái Mẹ sám hối trở về với tình yêu và lòng xót thương của Thiên Chúa.

 Vì thế, trong tông sắc “Dung mạo lòng Chúa xót thương – Miseridordiae vultus”, Đức Thánh Cha Phanxicô thiết tha dâng lời khẩn cầu lên Mẹ Maria, xin Mẹ ghé mắt nhìn đến đoàn con cái Mẹ trên khắp hoàn cầu; và mời gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hướng lòng về “Người Mẹ của lòng xót thương”, để luôn được sống và bước đi trong tình thương tha thứ của Thiên Chúa, cũng như trong niềm tín thác kiên vững vào tình yêu của Ngài qua lời chuyển cầu của Mẹ. Mẹ sẽ trở thành niềm an ủi và sức mạnh phù trợ, khi chúng ta bước qua cửa thánh để lãnh nhận ơn phúc từ lòng xót thương của Thiên Chúa.

Thật là ý nghĩa biết bao, khi năm thánh lòng Chúa thương xót được chính Đức Thánh Cha Phanxicô long trọng khai mạc với nghi thức mở cửa thánh tại vương cung thánh đường Thánh Phêrô, đúng ngày lễ Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội (08.12.2015), trong niềm hân hoan vui mừng của toàn thể Giáo hội.

Kinh ”Hãy nhớ”

 Ngay từ khi còn bé – chúng tôi đã được cha mẹ dạy “kinh hãy nhớ” – mà sau này, đến lúc lớn khôn – chúng tôi mới nhận ra đây là một kinh cầu lòng xót thương của Mẹ Maria rất xúc động:

“Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Ðức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà Ðức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời. Nhân vì sự ấy, con lấy lòng trông cậy than van chạy đến sấp mình xuống dưới chân Ðức Mẹ là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin Ðức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương mà nhận lời con cùng. Amen.

(Ghi Chú: Ai lấy lòng ăn năn sốt sắng mà đọc “kinh hãy nhớ”-, mỗi lần đọc thì được ân xá 300 ngày. Ai đọc hằng ngày đủ một tháng, thì được ơn đại xá, với điều kiện phải xưng tội rước lễ, viếng nhà thờ và cầu nguyện ý Ðức Giáo Hoàng).

Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ của lòng xót thương, không ngừng ghé mắt nhìn đến mỗi người chúng con, và cho chúng con được ngắm nhìn dung mạo của lòng xót thương – là chính Chúa Giêsu Kitô, Con của Mẹ – để nhờ đó, cuộc đời của mỗi người chúng con – cũng trở thành dấu chỉ sống động của tình yêu và lòng xót thương của Chúa cho mọi người.

 

Mary, Mother of Mercy | The Apostolate of Hannah's Tears