When did Jesus ascend into Heaven?

 

Nguyễn Trọng Lưu

Các thánh sử đã thuật lại nhiều trường hợp Đức Giêsu Kitô đã cho người chết sống lại

Đức Giêsu cho con gái ông Giairô sống lại (Mc.5, 21-24, 35-34)

Một hôm, khi thuyền vừa cập bờ hồ Galilêa, ông trưởng hội đường Giairô sụp lạy dưới chân Đức Kitô và xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi, xin Ngài đến đặt tay lên cháu để nó được cứu thoát và được sống.” (Mc. 5,24). Với lòng tin vững chắc và lời khẩn nài tha thiết của ông, Đức Giêsu đã đi để chữa bệnh cho con ông. Tuy nhiên, lúc Đức Giêsu còn đang nói thì người nhà đến báo cháu bé đã chết rồi, phiền Thầy làm chi nữa! Thế là ông trưởng hội đường khóc lóc thở than. Đức Giêsu thương xót trấn an: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi!”

Rồi ba môn đệ thân tín cùng với Thầy đến nhà ông Giairô xem sự thể thế nào. Dĩ nhiên bầu khí lúc đó đầy đau khổ, xen lẫn tiếng khóc than. Người ta ngơ ngác với câu phát biểu của Đức Giêsu: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy.” Thế là người ta nhạo cười Người. Cùng với cha mẹ em, Chúa Giêsu tiến lại gần, cầm lấy tay em và nói: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” Lập tức phép lạ xảy ra, con bé đứng dậy và đi lại được. Cả nhà sững sờ về một điều chưa từng thấy thế bao giờ. Họ cho con bé ăn uống và tri ân phép lạ Thầy làm.

Đức Giêsu cho con gái một vị thủ lãnh sống lại (Mt. 9, 18-19, 23-26)

Lần khác, khi Đức Giêsu dùng bữa tại nhà Mátthêu, có một ông thủ lãnh đến bái lạy Thầy: “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin người đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống lại!”

Khi đến nơi, thấy người ta khóc lóc, than van – Đức Giêsu liền tiến đến và nói: “Lui ra! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Giống như lần trước, người ta chế nhạo Ngài. Dân chúng không tin rằng người chết có thể sống lại và cho đó là chuyện hoang đường, khoác lác. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy. Phép lạ xảy ra trước mắt họ và tin ấy được đồn ra khắp vùng: Đức Giêsu có quyền phép cho người chết sống lại.

Đức Giêsu cho con trai bà góa thành Naim sống lại (Lc.7, 11-17)

Thánh Luca kể cho chúng một phép lạ khác xảy ra tại Naim, một khu phố nhỏ gần núi Tabo. Trong khi Thầy trò cùng đám người đông đảo đến gần cửa thành thì thấy một đám tang. Họ đang khiêng một người chết đi chôn: người ấy là con trai duy nhất của một bà góa. Nhìn người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, ai cũng buồn thương. Chưa hết tang chồng, nay bà lại khóc thương đưa tiễn người con yêu dấu! Thấy thế Đức Giêsu chạnh lòng thương bà, thương đến người chết và cả đám đông. Ngài an ủi bà đừng khóc nữa. Đức Giêsu tiến đến sờ vào quan tài, các người khiêng dừng lại và nói: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!” Người chết liền sống lại và Ngài trao anh ta cho bà mẹ. Mẹ con vui mừng khôn tả, còn dân chúng ngơ ngác đến kinh ngạc. Với phép lạ này, nhiều người tin nhận Đức Giêsu là một vị ngôn sứ vĩ đại, là Thiên Chúa đến với dân người.   

 

Đức Giêsu cho Lazarô sống lại (Gioan 11, 1-45)

Đây lạ phép lạ nổi tiếng nhất. Nổi tiếng vì Lazarô là bạn hữu thân thiết của Đức Giêsu. Làng Bêtania cách Giêrusalem chừng 3 cây số và là nơi thủ lãnh Do Thái quyết định giết Đức Giêsu.

Lazarô là em út của hai chị em Mátta và Maria. Gia đình họ luôn đón tiếp Đức Giêsu và các môn đệ khi thầy trò lên Giêrusalem. Đức Giêsu luôn quý mến ba chị em nhà này. Khi Đức Giêsu đang ở bên kia sông Giordan, thì Lazarô ốm nặng và qua đời. Thực ra lúc Lazarô đau nặng, Đức Giêsu đã được báo tin, nhưng Ngài chưa đến ngay mà còn lưu lại đó hai ngày. Sau đó người cùng các môn đệ tiến về Giêrusalem. Trên đường đi – biết Lazarô đã được chôn cất, nên Đức Giêsu mới nói với các môn đệ: “Lazarô, bạn của chúng ta đang yên giấc và Thầy đi đánh thức anh ấy đây!” Ý Đức Giêsu muốn nói về cái chết của Lazarô, nhưng các ông lại tưởng Ngài nói anh Lazarô đang ngủ. Nhưng khi Đức Giêsu nói rõ cho môn đệ biết rằng Lazarô đã chết, thì ai cũng sầu buồn tiếc thương một người bạn tốt.

Theo tục lệ người Do Thái, thi hài người chết phải chôn ngay trong ngày. Những ngày sau người thân ở trong gia đình và bà con lối xóm mới đến chia buồn, an ủi Mátta và Maria. Biết Đức Giêsu đang đến, Mátta ra đón người và nói: “giá mà có Thầy ở đây thì em con đã không chết” – vì cô tin quyền năng của Thầy”. Thầy an ủi cô và hứa rằng: “Em con sẽ sống lại!”

Vì Mátta chịu ảnh hưởng niềm tin của người Pharisiêu nên mới nói với Thầy: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.” Lúc này Đức Giêsu mạc khải cho cô và cho cả nhân loại một chân lý quan trọng: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không phải chết.” Mátta thưa lại: “Thưa Thầy, con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.”

Rồi chị Mátta đi gọi chị là Maria đến gặp Thầy. Maria vừa đi vừa khóc. Mọi người theo Maria cũng khóc theo. Thầy xao xuyến trong lòng và hỏi xác anh ấy ở đâu. Maria lau nước mắt và mời Thầy đến xem. Nghe thế Đức Giêsu liền khóc. Đây là lần đầu tiên người ta thấy Thầy khóc, nên họ xì xào: “Xem kìa! Ông ta thương anh Lazarô biết mấy!”

Khi đến mộ, Thầy yêu cầu người ta mang phiến đá lấp của mộ này đi. Mátta cản Thầy – vì em mình đã nặng mùi rồi. Sau khi Thầy ngước mắt lên trời, cầu xin với Chúa Cha, rồi Thầy kêu lớn tiếng: “Anh Lazarô, hãy ra khỏi mồ!” Kẻ chết liền đi ra khỏi mồ với khăn vải còn quấn trên người. Thấy thế mọi người đều kinh ngạc và rất nhiều người trong đám đông đã tin vào Người.

 

The Resurrection of Jesus | Did It Really Happen?

 

Đức Giêsu chết và ngày thứ ba Người sống lại

Sau phép lạ Thầy cho anh Lazarô sống lại, nhiều kẻ đã về mách lại với nhóm Pharisiêu và họ cùng với các thượng tế triệu tập thượng hội đồng để bàn cách giết Đức Giêsu. Đó là những ngày người ta bắt và xử tử Thầy trên đồi Canvê. Sau đó các môn đệ an táng thi hài Thầy trong một ngôi mộ. Thế là chính Thầy Giêsu, Đấng làm cho nhiều người chết sống lại, nay đã chết trong mồ. Sau đó ai nấy về nhà để mừng lễ Vượt Qua.

Nhưng sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, chính Thầy đã phục sinh và mở ra niềm hy vọng lớn lao cho toàn thể nhân loại: “Đức Giêsu phục sinh đã chiến thắng tử thần!”. Đó là sự thật, là phép lạ dành cho tất cả những ai muốn được sống đời đời.

Giải mã hiện tượng “người sống lại từ cõi chết”

Đấng tạo ra sự sống chắc chắn có thể khôi phục sự sống. Đức Chúa là nguồn của sự sống (Thánh vịnh 36, 9) nên việc ngài có thể làm cho người chết sống lại, chẳng phải là điều hợp lý sao? Kinh Thánh đảm bảo rằng ngài sẽ làm điều đó trong tương lai. (TdCv 24, 15)

Ngày nay người ta hay nói đến ”

Hội chứng Lazarus – việc hạ thân nhiệt” – là giả thuyết một người được tuyên bố đã chết rồi sau đó sống lại. Hội chứng đó cũng một cách gián tiếp không chấp nhận quyền năng làm cho kẻ chết sống lại của Đức Kitô và chối bỏ việc Đức Kitô tự mình sống lại từ cõi chết. Nhưng hội chứng này thực sự vẫn còn là một bí ẩn.

 

Benjamin Franklin đã từng nói: “Trong thế giới này không có gì chắc chắn hơn là cái chết và việc đóng thuế”. Tuy nhiên, trong bối cảnh lâm sàng, khi một người ngừng thở, tim và các cơ quan ngừng hoạt động vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn họ đã chết. Năm 2001, một người đàn ông 66 tuổi bị ngừng tim trong ca phẫu thuật phình động mạch bụng. Bác sĩ suốt 17 phút nỗ lực hồi sức tim phổi, khử rung tim – bệnh nhân vẫn không tỉnh lại. Cuối cùng các bác sĩ xác định anh ta đã chết. Tuy nhiên, chỉ mười phút sau, tim người đàn ông này lại hoạt động bình thường trở lại.

Trong Medicalnewstoday – năm 2014, một bệnh viện New York tuyên bố một phụ nữ chết não sau khi dùng thuốc quá liều. Nhưng người phụ nữ này đã tỉnh dậy ngay sau khi được đưa đến phòng phẫu thuật để lấy nội tạng.

Một trường hợp khác, bà Janina Kolkiewicz 91 tuổi được các bác sĩ xác định qua đời khi trái tim bà ngừng đập và không còn thở nữa. Khi mọi người đang chuẩn bị các nghi lễ mai táng cho bà, thì 11 giờ sau – bà bỗng nhiên tỉnh dậy, nói thèm uống trà và ăn bánh kẹp. Bà trở thành một hiện tượng “từ cõi chết trở về”.

Theo các nhà khoa học, những câu chuyện chết đi sống lại tưởng như phi thường trên đây chỉ là dấu hiệu của hội chứng Lazarus. Hội chứng này được định nghĩa là sự trở lại chậm trễ của lưu thông tự phát (ROSC) sau khi tim phổi ngừng hoạt động. Khi áp lực này ngừng hoạt động sẽ dần giải phóng và tim phổi bắt đầu làm việc trở lại. Từ năm 1982, khi hiện tượng Lazarus lần đầu tiên được mô tả trong y học, đã có ít nhất 38 trường hợp được ghi nhận. Bệnh nhân được xác định đã chết sau khi ngừng tim sẽ tỉnh dậy và hoạt động bình thường.

Nghiên cứu công bố năm 2007 của Vedamurthy Adhiyaman và các đồng nghiệp cho biết, khoảng 82% người mắc hội chứng Lazarus xảy ra trong vòng 10 phút khi tim phổi ngừng đập. 45% bệnh nhân hồi phục thần kinh tốt sau khi tỉnh dậy.

Một câu hỏi nảy sinh là hiện tượng ngừng hoạt động các cơ quan trong cơ thể do sự chậm trễ của quá trình lưu thông hay thiếu sót của các kỹ thuật hồi sức liên tục tại bệnh viện. Hiện các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa lý giải đầy đủ về hiện tượng Lazarus này. Tuy nhiên, họ tin rằng hội chứng này phổ biến hơn những nghiên cứu trước đó.

Tuy nhiên các nhà khoa học cho rằng “không nên gọi hiện trạng này là sống lại từ cõi chết – bởi bệnh nhân hội chứng Lazarus chưa bao giờ chết thực.”.

 Vậy làm thế nào để biết chính xác một người đã chết thực sự hay chưa? 

Thường các nhà nghiên cứu khuyên bệnh nhân nên được theo dõi trong khoảng 15 phút sau khi chết, vì đó là khung thời gian quá trình lưu thông tự phát bị trì hoãn. Không nên kết luận ngay bệnh nhân đã chết khi vừa có dấu hiệu tim ngừng đập và phổi ngừng thở.

 ”Tin vào việc xác thịt sống lại (eis sarkós anástasin)”

 Nhưng việc Đức Kitô sống lại từ cõi chết và việc Người làm cho người chết sống lại là quyền năng của Thiên Chúa.

Một công thức ngắn trong phụng vụ bên Ai Cập – ngay từ thế kỷ thứ 3 – đã ghi: “Tôi tin vào Thiên Chúa là Cha toàn năng, vào Con Một Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và vào Thánh Thần, cũng như tin việc xác thịt sống lại (eis sarkós anástasin) trong Giáo Hội công giáo thánh thiện”. Còn Thánh Phaolô lại viết trong thơ Corintô: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn sống trong tội lỗi của anh em” (1.Cr. 15,17)

Đức tin công giáo đạt tới tuyệt đỉnh với đức cậy. Lòng tin và niềm hy vọng sẽ được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu: đó là nội dung của niềm cậy trông, là mục đích của kiếp sống con người, của kế hoạch cứu độ và của sứ mệnh Đức Kitô. Nhưng “nội dung” ấy chỉ được mạc khải dưới dạng mầu nhiệm, là đối tượng của hy vọng. Vì thế, ngôn ngữ loài người phải dùng đến ẩn dụ để diễn tả mà trong Kinh Thánh thường gọi đó là việc “kẻ chết sống lại”.

Kitô giáo, Do Thái giáo, Chính Thống giáo và Hồi giáo đều tin vào sự sống lại – tuy có khác nhau.  Các tôn giáo quan niệm khác nhau về số phận cánh chung của con người: một số tin vào luân hồi, một số tin ở vong linh, một số khác thì tin là bản ngã con người hòa tan vào trong Đấng Tuyệt Đối, hoặc cho rằng các linh hồn sống ở một nơi cực lạc hay địa ngục. Các cách quan niệm này đều nói lện một sự thật căn bản là sau lúc chết, con người vẫn còn tồn tại một cách nhiệm mầu, điều mà loài người chỉ tin chứ không hiểu được. Nhu cầu căn bản và khát vọng chủ yếu của con người là luôn tồn tại – và khi đã tin vào một Đấng Tạo Hóa toàn năng nhân hậu, thì con người hy vọng và tin tưởng Người cũng sẽ an bài số phận mình cho hợp với lòng thương vô biên của Người.

Đức Giêsu cũng đã nói rõ, sống lại không phải là kẻ chết trở về với cuộc đời như trước, nhưng là đi vào một cuộc sống khác hẳn, “giống như các thiên thần” (Mt. 22,30), nhờ Thần Khí. Sự sống kỳ diệu ấy đã bắt đầu nơi Đức Giêsu – vì thế, thánh Phaolô gọi Ngài là “trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (Col. 1,18); còn kinh tin kính thì tuyên xưng: “Ngày thứ ba Ngài bởi trong kẻ chết mà sống lại”. “Nhờ liên đới với Ðức Kitô, mọi người đều được Thiên Chúa cho sống lại; nhưng mỗi người theo thứ tự của mình: mở đường là Ðức Kitô, sau đó đến lượt những kẻ thuộc về Ngài” (1Cr. 15, 23).

Ðức Kitô cũng đã nói rõ: “Mọi kẻ ở trong mồ sẽ nghe tiếng Con Người và sẽ ra khỏi đó: ai đã làm điều lành, thì sẽ sống lại để được sống; ai đã làm điều dữ, thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga. 5,28-29). Lời này tóm tắt giáo lý kitô giáo ngay từ ban đầu. Con người chỉ là một với hồn và xác, số phận con người cũng chỉ là một, con người trở thành thế nào là do sự lựa chọn của của chính mình. Nói cách khác, việc làm xác định cách thế con người trở thành: đã chọn sống thế nào – thì sẽ sống lại thể ấy.

Chúa Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống (Ga,11.25).

Chúa Giêsu hé mở cho chúng ta một chân lý về mầu nhiệm của sự sống. Sự sống thay đổi chứ không mất đi. Khi sự sống của con người đã được hiện hữu thì không bao giờ bị xóa bỏ. Vì mỗi một con người đều được tạo nên giống hình ảnh của Thiên Chúa. Sự sống mà chúng ta đang có đây đã bắt nguồn từ cội rễ khi Thiên Chúa thổi hơi thở vào con người của Ađam. Chỉ Đức Giêsu sasu này mới nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống”: sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa, không ai có quyền hủy đi sự sống.

Do quyền năng của Đấng đã sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng sẽ được sống lại nhờ đức tin.