Tổ chức Thánh lễ Tuyên phong Chân phước tại Trung tâm hành hương Tắc Sậy

Nguyễn Trọng Lưu

 

Những khác biệt giữa việc ”phong chân phước” và ”phong thánh”

 Lm. Giuse Nguyễn Tất Thắng OP cho biết có 4 khác biệt chính giữa việc ”phong chân phước””phong thánh”: 1. Trong nghi thức phong chân phước, Đức Giám Mục giáo phận nơi ứng viên qua đời là người xin cho ứng viên được tuyên phong chân phước, còn trong nghi thức phong thánh, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh xin cho chân phước được phong thánh dưới danh nghĩa của toàn thể Giáo Hội. 2. Chân phước được tôn kính công khai tại các nơi chốn gần gũi với đời sống và công việc tông đồ của vị này, thông thường đó là giáo phận nơi vị này sinh sống hay qua đời – còn các thánh được tôn kính trong các nghi thức phụng vụ và trong toàn giáo hội. 3. Các thánh đường có thể được cung hiến cho một vị thánh, nhưng muốn cung hiến thánh đường cho chân phước cần có phép của Đức Giáo Hoàng. 4. Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI, cũng cố gắng giúp cho dân chúng thấy có sự khác biệt giữa phong thánh và phong chân phước bằng việc ngài chỉ chủ sự lễ phong thánh khi có một vị thánh mới được tôn phong – ngoại trừ trừ hai dịp đặc biệt ngài phong chân phước cho Đức Hồng Y John Henry Newman tại Anh Quốc (19.9.2010) và cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 tại Roma (1.5.2011).

“Á Thánh” Với “Chân Phước” khác nhau thế nào?

(Đây là những ghi chú của Lm. Phan Tấn Thành, Hiểu để sống đức tin”, tập 3 – Học viện Đa Minh, 2009, tr. 53-59. Phần này đã được phát thanh trên đài Vatican tiếng Việt, ngày 25.2.2001)

Ngày 5.3.2000, Đức Thánh Cha đã phong chân phước cho thầy giảng Anrê Phú yên. Có nhiều người lại không gọi Ngài là ”chân phước” – mà lại gọi Ngài là ”á thánh”: ”á thánh” và ”chân phước” có giống nhau không? Tại sao gọi là chân phước? Tại sao gọi là á thánh?

Có lẽ tiếng ”á thánh” dễ cắt nghĩa hơn. Theo từ điển Hán Việt, á có nghĩa là kém một bực, đứng hạng nhì; thí dụ đời xưa á nguyên là người thi đậu hạng nhì (sau trạng nguyên); ngày nay trong các cuộc thi sắc đẹp, á hậu là người đoạt giải nhì (sau hoa hậu). Theo nghĩa đó, á thánh có nghĩa là người kém vị thánh một bậc.

Từ ”chân phước” thì dịch sát với nguyên ngữ La-tinh beatus” hơn. ”Beatus” theo nguyên nghĩa là người có phước, người được hạnh phúc. Tuy nhiên trong thần học Kitô giáo, từ này mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo bối cảnh, văn mạch và thời đại.

Trong Tân Ước, chúng ta gặp thấy từ “beatus” trong bài giảng trên núi của Tin mừng thánh Matthêu, về 8 mối phúc thật: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai sầu khổ …”. Những người đó được ca ngợi là có phúc, bởi vì họ được Thiên Chúa làm gia nghiệp và được nhìn thấy Thiên Chúa. Còn trong Tin mừng thánh Luca, chúng ta thấy lời chúc tụng “phúc thay” đã được bà thánh Isave dùng để gọi Đức Maria: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Chính Chúa Giêsu cũng khẳng định “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28).

Từ đó, văn chương Kitô giáo trong các thế kỷ đầu tiên gọi những tín hữu chết trong ơn nghĩa Chúa là “beati” – là những người đang vui hưởng hạnh phúc bên cạnh Chúa, bởi vì trước đây họ đã đi theo con đường của các mối phúc thật. Nói khác đi, các “beati – các phúc nhân, các chân phước” là các vị thánh, những người đã tuân giữ luật Chúa, đã sống đạo đức thánh thiện.

Như vậy “chân phước” cũng là “thánh”, phải không?

Đúng thế. Như vừa nói, những tín hữu đã sống đời đạo đức thánh thiện, đã đi theo con đường bát phúc, thì sau khi qua đời, được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên cạnh Chúa, thông dự vào chính sự thánh thiện của Chúa. Trong các thế kỷ đầu tiên, phụng vụ dùng trà trộn các tiếng “chân phước”“thánh nhân”. Trường hợp điển hình là Đức Maria: các sách phụng vụ vừa gọi là ”thánh Maria -sancta Maria”, vừa gọi là ”chân phước Maria – beata Maria”.

Là tôi tớ Chúa – dù là chân phước hay hiển thánh, mục đích cuối cùng của việc phong thánh không phải là để ban tặng một danh hiệu cao quý theo kiểu trần thế. Đó là cách Giáo Hội giới thiệu những mẫu gương sống động để chúng ta noi theo.

Blessed Andrew of Phu Yen martyrdom story

 

Chân phước người Việt Nam đầu tiên: thày giảng Anrê Phú Yên

Anrê Phú Yên (sinh khoảng năm 1625, mất năm 1644). Là thày giảng, từ giáo xứ Mằng Lăng, tỉnh Phú Yên, giáo phận Qui Nhơn – chịu tử đạo và được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên chân phước ngày 5.3.2000. Ngài là quan thày của giáo lý viên và giới trẻ công giáo thế giới.

Hiện vẫn chưa có sử liệu nào tìm được tên thật của Ngài – chỉ biết là vào năm 1641, linh mục Alexandre de Rhodes đã rửa tội cho Ngài cùng với 91 người khác. Ngài được đặt tên thánh là Anrê. Mẹ đỡ đầu là quận chúa Maria Mađalêna Ngọc Liên, là vợ của thủ trấn Nguyễn Phúc Vinh. Ngài đi theo linh mục Alexandre de Rhodes với vai trò là giáo lý viên – ngày xưa gọi là thầy giảng. Ngày 31.7.1643 – cùng với một số đồng bạn, Ngài nguyện tận hiến cuộc đời phục vụ Giáo Hội và cùng với các bạn đi truyền giáo ở các tỉnh Thuận HóaQuảng TrịQuảng Nam.

Việc truyền đạo gặp rất nhiều khó khăn do quan niệm của các quan lại ảnh hưởng tam giáo thời đó cho rằng đạo công giáo là tả đạo cần phải diệt trừ. Ngày 25.7.1644, trong khi truyền đạo ở Quảng Nam, Ngài bị quan binh sở tại bắt giữ và tống giam vào ngục. Khi đưa ra công đường, quan viên sở tại nhiều lần khuyên Ngài bỏ đạo để bảo toàn tính mạng – tuy nhiên Ngài đã từ chối, cương quyết xưng mình là Kitô hữu và là thầy giảng, và sẵn sàng hy sinh mạng sống để trung thành với Chúa Kitô.

Ngày 26. 7. 1644, Ngài bị tuyên án chém đầu. Ngay chiều hôm đó, Ngài bị giải qua các phố ở Kẻ ChàmQuảng Nam, bị đâm nhiều nhát giáo xuyên cạnh sườn, cuối cùng bị chém đầu. Máu của Ngài đã đổ ra trên đất Phước Kiều, Đà Nẵng và đền Thánh Anrê Phú Yên đã được xây tại đây.

Ngày 15. 8. 1644, thi hài của Anrê Phú Yên được linh mục Đắc Lộ mang đến Macao, và được an táng tại Nhà thờ Thánh Phaolô ở đó. Riêng thủ cấp của Ngài – linh mục Đắc Lộ mang theo bên mình cho đến khi được cất giữ tại nhà bề trên tổng quyền Dòng Tên ở Roma, nước Ý.

 

Chân Phước Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

Ngày 02.07.2026 vừa qua, Đức Hồng Y Luis Antonio Gokim Tagle – đặc sứ của Đức Giáo Hoàng Leô 14 đã đến Việt Nam – để tuyên phong chân phước cho Linh Mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, tử đạo ở Tắc Sậy, thuộc giáo phận Cần Thơ.

Tiểu sử Linh mục Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp (1897-1946)

Lm. Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp sinh ngày 01.01.1897. Một tháng sau – ngày 02.02.1897, Ngài được Cha Giuse Sớm rửa tội tại họ đạo Cồn Phước. Thân phụ Ngài là ông Micae Trương Văn Đặng và thân mẫu bà Lucia Lê Thị Thanh, sinh sống tại họ đạo Cồn Phước – nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Năm 1904, lúc ngài 7 tuổi thì mẹ mất. Cha ngài dời gia đình lên Battambang bên Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn thị Phước, sinh năm 1890, quê gốc tại Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù Lao Giêng, tỉnh An Giang. Học xong tiểu chủng viện, ngài lên đại chủng viện Nam Vang, Campuchia – bởi lúc đó các họ đạo An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia. Năm 1924, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới thời Đức Cha Chabalier người Pháp.

Từ năm 1924-1927, ngài làm Cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Từ năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại tiểu chủng viện Cù Lao Giêng.

Tháng 03.1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo khác tại các vùng phụ cận như: Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.

Trong hai năm 1945-1946 – vì hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương, chiến tranh loạn lạc, nhân dân di tản, nên Cha Bề Trên địa phận Bạc Liêu lúc đó là Phêrô Trần Minh Ký cũng như các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, đợi khi nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả!”

Ngày 12.03.1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ đạo Tắc Sậy. Tất cả bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa. Người ta định giết tất cả nhưng ngài nói chính ngài là chủ chăn – nên Ngài xin chết thay cho các con chiên. Họ chấp nhận. Mọi người được thả còn ngài thì bị đem đi thủ tiêu.

Ai đã thủ tiêu Ngài?  Cho đến nay, các sử gia chưa hoàn toàn đồng ý với nhau về việc nhóm người nào đã thủ tiêu Ngài. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi cũng xin bỏ qua việc tra cứu này. 

Những người trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc trong họ đạo biết chỗ họ ném xác ngài – trong ao nhà ông giáo Sự. Các vị đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã bị chặt đầu với một vết chém ngang cổ chỗ gần mang tai, cùng ba vết chém khác trên mình. Ngài bị lột hết quần áo, trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.

Các vị chức sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Như vậy ngài đã chịu tử đạo vào ngày 12.03.1946, nhằm ngày mồng 09.02 năm Bính Tuất.

Năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về Nhà thờ Tắc Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

Vào đầu năm 2010, một ngôi nhà mộ cực kỳ khang trang và hiện đại đã xây dựng xong – nên hài cốt ngài được cải táng và di chuyển vào đó. Kể từ đó, ngày nào cũng có các tín hữu trong nước cũng như ngoài nước, lương cũng như giáo, tới thăm viếng, khấn nguyện với Ngài.

Lm. Phanxicô Xavier Trương Bửu Diệp là bác họ của cố Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.

 

Cuộc điều tra

Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp có sức ảnh hưởng rất lớn, không riêng ở Bạc Liêu, tại giáo phận Cần Thơ, mà còn ở nhiều nơi khác trên đất nước Việt Nam và cả nước ngoài.

Mộ phần của ngài ở Tắc Sậy thu hút đông đảo mọi thành phần đến kính viếng, và hình ảnh của ngài hiện diện ở khắp nơi.

Từ năm 2011 đến năm 2017, giáo phận Cần Thơ đã tiến hành một cuộc điều tra kỹ lưỡng về cuộc đời và cái chết của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp. Một ”Ủy ban sử học của giáo phận” đã được thành lập để tra cứu tất cả các tài liệu khả dĩ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp giúp tìm hiểu về cuộc đời và những sự kiện dẫn đến cái chết bi thảm của ngài. Ủy ban cũng tham khảo ý kiến của một nhóm sử gia độc lập và hai mươi ba nhân chứng, cả công giáo cũng như bên lương – sau khi công khai tuyên thệ làm chứng cách trung thực. Trong số đó, có 13 người là nhân chứng tận mắt, còn 10 người khác làm chứng về những gì họ nghe được từ những người trực tiếp chứng kiến.

Thể theo yêu cầu của Giáo phận Cần Thơ, Tòa Thánh đã xem xét kỹ lưỡng phương pháp tiến hành và kết quả của cuộc điều tra này, và cuối cùng đã tuyên bố kết quả của cuộc điều tra là đáng tin cậy.

Do đó, vào ngày 25.11.2024, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cho phép giáo phận Cần Thơ tiến hành các bước tiếp theo: chính thức công nhận linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp là một mẫu gương sống đạo và muốn ban cho ngài danh hiệu “chân phước”.

Đức Hồng y GB. Phạm Minh Mẫn, là cháu họ của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp nói về Ngài“Ngài là một mục tử tốt lành, yêu thương, phục vụ, và sống chết với đoàn chiên. Ngài không chỉ tận tình chăm sóc những giáo dân trong họ đạo mà cả những lương dân – không chỉ trong họ đạo được trao phó mà cả những giáo điểm xa xôi. Cha thường xuyên đến những giáo điểm và họ đạo này cử hành thánh lễ và ban các bí tích cho giáo dân. Để đến được những nơi đó, cha thường đi bằng ghe xuồng hoặc đạp xe đạp. Cha Diệp tốn nhiều thời gian và hao tổn nhiều sức lực, tâm trí trong việc linh mục của mình. Cha yêu thương và biết dân rất rõ. Cha rất gần gũi với cuộc sống hằng ngày và thiêng liêng của họ. Cha phục vụ họ và hy sinh cuộc đời cho họ”.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trả lời cho thỉnh cầu của giáo phận Cần Thơ vào ngày 25.11.2024 – khi tuyên bố rằng: “Cha Trương Bửu Diệp đã bị giết vì lòng thù ghét đức tin vào ngày 12.03,1946” và truyền công bố sự thật ấy cho tất cả mọi thành phần trong giáo hội công giáo và cho tất cả những người thành tâm thiện chí.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV trong ”Kinh Truyền Tin” trưa chúa nhật ngày 05.07.2026 cũng đã nhắc đến lễ tuyên phong Chân Phước cho Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp tại Việt Nam. ​

 

Bài giảng thánh lễ tuyên phong chân phước cho Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp của Đức Hồng Y Luis Antonio Gokim Tagle.

”Anh chị em thân mến,

Chúng ta hãy ngợi khen Thiên Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta trong Thánh lễ tuyên phong chân phước cho Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, vị mục tử của Tắc Sậy, chứng nhân đức tin và là vị tử đạo của Giáo hội Công giáo. Qua ngài, Giáo Hội tại Việt Nam được Thiên Chúa chúc lành. Ngài cũng là hồng ân của Chúa dành cho toàn thể Hội Thánh và cho gia đình nhân loại.

Nhiều người vẫn đặt câu hỏi: vì sao cái chết của Lm. Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp lại được giáo hội tôn vinh là chân phước? Có lẽ, theo cái nhìn của thế gian, người ta sẽ gọi những người như ngài là “những người xấu số” hơn là “chân phước”. Tuy nhiên, chúng ta hãy cùng suy nghĩ dưới ánh sáng đức tin.

Thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về với giáo huấn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, chương năm, về các mối phúc thật:

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”

Như vậy, những ai bị bách hại vì danh Chúa, bị thế gian khước từ nhưng được Thiên Chúa đón nhận, chính là những người có phúc. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi cuộc bách hại đều vì danh Chúa: chỉ khi một người chấp nhận đau khổ và thử thách vì Đức Giêsu, người ấy mới thực sự làm chứng rằng mình thuộc về Thiên Chúa hơn là thuộc về thế gian.

Trong Tin Mừng thánh Gioan, Chúa Giêsu khẳng định rằng Người đã chọn chúng ta để thuộc về Người, chứ không thuộc về sự dữ. Người mời gọi chúng ta sống theo lời Người dạy, sống trong sự thật, không giả dối và luôn kết hợp với Người – ngay cả giữa những hiểm nguy. Người môn đệ đích thực là người yêu mến Chúa, ở lại với Chúa và trung thành với Chúa ngay trong những lúc bị bách hại.

 Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi mỗi người chúng ta đáp lại tiếng gọi ấy: hãy chọn Chúa và nương tựa vào Người mỗi ngày trong cuộc sống.

Giờ đây, tôi muốn hỏi anh chị em:

Anh chị em sẽ chọn điều gì? Anh chị em sẽ làm giàu bằng những cách bất chính hay mưu sinh bằng sự chân thật? Anh chị em sẽ chỉ tích trữ của cải cho bản thân hay biết quảng đại chia sẻ với những người nghèo khó? Anh chị em sẽ chọn cuộc sống tiện nghi cho riêng mình hay sẵn sàng mang lấy đau khổ của tha nhân?

 Nếu chọn Đức Giêsu, anh chị em đã được chúc phúc.

Phúc thay những ai chọn sống theo gương Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Giờ đây, chúng ta hãy cùng suy nghĩ về ý nghĩa của sự tử đạo.

Thông thường, người ta nghĩ tử đạo chỉ đơn thuần là cái chết. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tử đạo chính là chấp nhận chết vì chân lý, vì danh Chúa và để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô. Các vị tử đạo loan báo Tin Mừng bằng chính lời nói, hành động và mối tương quan mật thiết với Chúa. Khi một người sẵn sàng hiến mạng sống vì danh Chúa, chứng tá của họ trở nên đáng tin hơn bất cứ lời giảng dạy nào. Người tử đạo là một nhà truyền giáo tuyệt vời, bởi chính cuộc đời họ làm chứng cho Đức Kitô.

Vậy ai là người làm chứng cho Đức Giêsu? Đó là những người sống trong sự thật vì Chúa.

Trong bài đọc thứ hai, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô Tông đồ, chúng ta vừa nghe: ”Anh chị em thân mến, anh chị em hãy tôn thờ Đức Kitô là Chúa trong lòng mình; hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh chị em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với lòng kính cẩn; hãy giữ lương tâm ngay chính, để khi anh chị em bị vu khống thì những kẻ phỉ báng nếp sống tốt đẹp của anh chị em trong Đức Kitô phải xấu hổ.” (1 Phêrô 3,15-16)

Người tử đạo là người luôn sống vui tươi, hiền hòa, đầy lòng nhân hậu và can đảm, ngay cả khi phải đối diện với sự chống đối.

Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chưa bao giờ chần chừ trong việc sống đức ái và làm chứng cho chân lý. Ngài yêu thương người nghèo, tận tụy phục vụ tha nhân. Ngài sống tình yêu của Thiên Chúa bằng việc quan tâm, ôm lấy mọi người, kể cả những người chưa biết Chúa. Đặc biệt, ngài đã ở lại với đoàn chiên giữa lúc hiểm nguy thay vì tìm đường chạy trốn.

Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp mời gọi chúng ta hãy can đảm làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình.

Tôi muốn hỏi anh chị em một lần nữa:

Anh chị em sẽ làm chứng cho Đức Kitô hay sẽ tiếp tục loan truyền những tin giả? Anh chị em sẽ chọn sống theo gương Đức Giêsu trong đức ái hay sẽ chọn những con đường khác? Anh chị em sẽ thỏa mãn với thành công và danh tiếng cá nhân hay sẽ hãnh diện vì được mang danh Chúa? Người tử đạo chân chính giúp mọi người biết phân định điều gì đáng để lựa chọn.

Thế giới hôm nay đang rất cần những con người dám làm chứng cho sự thật.

Chúng ta đừng sống cho bạo lực, thù hận, chia rẽ, kích động hay những điều sai sự thật. Mối tương quan của người tử đạo với Thiên Chúa được thể hiện rõ qua niềm hy vọng mà họ luôn gìn giữ giữa những cuộc bách hại.

Thánh Phêrô nói rằng người ta có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống trong Thần Khí thì không bao giờ bị hủy diệt. Cuộc đời và sứ mạng của Đức Giêsu không kết thúc bằng khổ đau và cái chết, nhưng được hoàn tất trong ánh sáng phục sinh vinh hiển.

Đức Kitô đã thực sự sống lại. Người đang hiển trị trong nước của Người, ngự bên hữu Chúa Cha và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta.

Chính niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc.

Vinh quang mà Thiên Chúa hứa ban sẽ không bao giờ phai tàn.

Chúng ta hãy nhớ đến người trộm lành bị đóng đinh bên cạnh Chúa Giêsu. Trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông tha thiết thưa với Chúa: “Xin Ngài nhớ đến tôi khi vào Nước của Ngài.” Và Chúa Giêsu đã lập tức đáp lại lời cầu xin ấy. Người trộm chỉ xin được Chúa nhớ đến, và Chúa đã ghi nhớ ông trong chính trái tim của Người. Thế gian có thể quên lãng chúng ta, nhưng Đức Giêsu phục sinh sẽ không bao giờ quên những ai thuộc về Người.

Thánh Stêphanô, vị tử đạo tiên khởi, giữa lúc chịu đau khổ đã được thấy trời mở ra và Con Người ngự bên hữu Thiên Chúa. Vinh quang Nước Trời đang chờ đợi phía trước. Các vị tử đạo đã bước qua đau khổ, gươm giáo và cái chết để tiến vào vinh quang ấy.

 Chúng ta tin rằng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã gặp gỡ Đức Giêsu và đang sống trong hạnh phúc vĩnh cửu với Người. Ngài mời gọi chúng ta đặt trọn niềm hy vọng nơi Đức Giêsu. Chính Chúa sẽ làm cho cuộc đời và sứ mạng của chúng ta được bền vững, chứ không phải của cải vật chất.

Vì thế, tôi lại muốn hỏi anh chị em:

Anh chị em sẽ chọn đặt nền tảng cuộc đời trên sự giàu có của thế gian hay trên sự giàu có của Thiên Chúa?

Anh chị em sẽ tìm kiếm danh tiếng và những lượt thích, lượt chia sẻ trên mạng xã hội hay sẽ chọn nương tựa nơi Thiên Chúa?

Anh chị em sẽ chọn những vũ khí gây nên chiến tranh hay sẽ đón nhận món quà là chính Đức Kitô, Đấng đem lại bình an đích thực?

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.

  Phúc thay ai bị bách hại vì Danh Chúa, vì Nước Trời là của họ.”

  Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Hòa Bình, xin chuyển lời cầu cho chúng con

  Xin Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp cầu bầu cùng Chúa cho chúng con.

  Amen.