
Nguyễn Trọng Lưu
Chắc chúng ta ai cũng biết và nhớ lễ sinh nhật Đức Mẹ (8.9) và lễ Đức Mẹ sầu bi (15.9) – nhưng có thể chúng ta không quen nhớ lễ ”Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu” – mà thánh Don Bosco (1815-1888) đã đặc biệt tôn sùng và quảng bá.
Bức tranh ”Đức Mẹ phù hộ các giáo hữu” tại vương cung thánh đường Đức Mẹ phù hộ ở Valdocco – Torino (nước Ý), là một kiệt tác về nghệ thuật thánh mà thánh Don Bosco đã để lại cho con cái của Ngài – qua biệt tài của họa sĩ Tommaso Andrrea Lorenzone (1824-1902).
Trong cuộc sống cá nhân, gia đình, hội đoàn và cộng đoàn – dưới hình thức này hay hình thức khác – chúng ta đã và đang nhận được biết bao ơn lành của Thiên Chúa thương ban qua lời chuyển cầu thần thế của Mẹ Maria, mà cha thánh Don Bosco tuyên xưng là ”Mẹ phù hộ các giáo hữu”. Chính Ngài đã xây vương cung thánh đường kính Mẹ Phù Hộ ở Torinô và cùng với Mẹ thánh Maria Mazarellô thành lập tu hội “Con Đức Mẹ phù hộ” – thường được gọi là các sơ Salesiêng.
Lễ Mẹ phù hộ các giáo hữu đã được Đức Thánh Cha Piô VII đưa vào lịch phụng vụ và mừng kính vào ngày 24.5 hàng năm để đánh dấu một phép lạ, một sự can thiệp lạ lùng của Đức Mẹ đã giải thoát Đức Thánh Cha khỏi tù và đưa Ngài về lại Roma vào năm 1814.
Tước hiệu Mẹ phù hộ cũng được nhiều nơi tôn kính
1. Mẹ phù hộ các giáo hữu, bổn mạng của Úc châu
Một số người Ireland bị đầy sang Úc châu như những tù nhân chiến tranh – vì họ đã chiến đấu để giành độc lập, trong cuộc nổi dậy của người Ireland năm 1798 – trong khi những người khác là dân thuộc địa, đã tìm cách sống sót qua nạn đói và những năm cơ cực ở Ireland. Trong bối cảnh này, người công giáo Úc châu triển nở và qua Đức Maria, họ sống đức tin. Úc châu là quốc gia đầu tiên chọn Mẹ Phù Hộ làm quan thầy. Nhà thờ chính tòa Mẹ Maria của Tổng Giáo phận Sydney, được dâng hiến cho Mẹ Phù Hộ.
2. Mẹ phù hộ các giáo hữu tại Goiania – Brazil
Một viên ngọc quý của nhà thờ chính tòa Goiania, Brazil, là bức ảnh Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu, quan thày của tổng giáo phận và thành phố. Giáo dân gọi đó là “Bức ảnh phép lạ” bởi vì, trong một cuộc rước qua các đường phố trong thành phố, bức ảnh được rước đi mà không gắn chặt vào bục. Dân chúng chỉ nhận ra khi kiệu về đến nhà thờ và từ đó bức ảnh đã được dân chúng ngưỡng mộ. Bức ảnh đó được đặt trên bàn thờ ở quảng trường, nơi thánh lễ được cử hành vào ngày 5.07.1942 – nhân lễ khánh thành thành phố, do Đức Tổng Giám Mục Cuia chủ lễ.
3. Mẹ phù hộ các giáo hữu, bổn mạng của nông dân xứ Argentina.
Vào ngày 27. 10. 1949, theo sáng kiến của nông dân ở vùng Rosario, cơ quan hành pháp quốc gia đã ký sắc lệnh “tuyên dương Đức Maria, Mẹ phù hộ các giáo hữu là người bảo trợ nông nghiệp ở Argentina”. Sắc lệnh ghi nhận sự đóng góp và quảng bá của tu hội Salêdiêng cho nền nông nghiệp Argentina bằng cách thành lập các trường nông nghiệp trên khắp đất nước.
4. Mẹ phù hộ, Đấng bảo trợ của bang Amazonas và đảo Orinoco
Vào ngày 5.2. 1932, Đức Piô XI đã thành lập ”phủ doãn Tông tòa Orinoco”, và trao cho các nhà truyền giáo Salêdiêng trông coi dưới sự bảo trợ của ”Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ phù hộ các giáo hữu” cho những vùng đất ân sủng này. Bắt đầu từ việc các nhà truyền giáo đến Puerto Ayacucho vào ngày 11.9. 1933, nhà thờ công giáo đầu tiên tôn vinh Mẹ Maria phù hộ các giáo hữu được xây dựng tại khu phố Humboldt. Ngày 20.5.1980, hội đồng thành phố của lãnh thổ liên bang Amazonas quyết định chọn ngày 24.5 là quan thầy và tuyên nhận Đức Maria phù hộ các giáo hữu là quan thầy của Puerto Ayacucho. Đến ngày 18.5. 2011, thống đốc Liborio Guarulla đã tái khẳng định sắc lệnh này, nhận Mẹ làm Đấng bảo trợ của bang Amazonas và vùng Orinoco.
Cha thánh Don Bosco và sự hiện diện của Mẹ Maria
Cuộc đời của cha Gioan Bosco từng bước, từng chặng luôn có sự hiện diện trìu mến và hướng dẫn của Mẹ Maria.
Ngay từ tấm bé – lúc mới chín tuổi – trong một giấc mơ, bé Bosco thấy mình đứng trước một bầy trẻ đang đánh đấm, chửi rủa nhau. Bé đã nhẩy vào can ngăn. Muốn thế, bé đã phải dùng tới những cú đấm cú đá để ngăn chặn: ngay lúc đó, một người lạ mặt đã xuất hiện và khuyến cáo bé:
– Con phải dùng tình thương, dịu hiền để chinh phục các bạn con!
Bé ngỡ ngàng, thắc mắc vặn hỏi:
– Làm thế nào vì con bất tài…
Người lạ mặt đã khích lệ và hứa sẽ cho một bà giáo khôn ngoan hướng đạo và chỉ giáo cho Bosco. Bà giáo đó chính là Mẹ Maria. Người mẹ dịu hiền chở che Bosco và vén mở cho Bosco nhìn thấy viễn tượng lũ trẻ tinh nghịch kia biến mất thay vào bằng bấy sói, gấu, chó, mèo… dần biến thái thành những em bé ngoan ngùy, dễ thương, đức độ. Và Mẹ kết luận “đó là công việc của con”.
Giấc mơ đầu này đã dần dần hình thành: Bosco từ một em bé nghèo, mồ côi đã biết vươn lên, vượt thắng bao nhiêu khổ đau tủi nhục để qua tiểu học, trung học và bước vào được chủng viện. Sau khi chịu chức linh mục, Ngài được Mẹ hướng dẫn từng bước, từng bước để hình thành khánh lễ viện, các trung tâm trẻ lo cho các em bụi đời, bơ vơ trên các vỉa hè, đường phố, sân ga lao tù.
Chính Mẹ Maria thể hiện các phép lạ
Trong cuộc đời, cha thánh Don Bosco đã thể hiện nhiều phép lạ – nên người ta đã gán cho Ngài danh hiệu “người làm phép lạ của thế kỷ”. Nhưng cha luôn phủ nhận mình không làm gì cả, hoàn toàn do Mẹ Maria phù hộ các giáo hữu đã thể hiện. Chúng ta hãy nêu một vài sự kiện như sau.
Năm 1848, ngày lễ sinh nhật của Đức Mẹ, người coi phòng áo đã quên mang chén bánh lễ ra cho Don Bosco truyền phép. Tới lúc rước lễ, Don Bosco thấy có tới 400 em tham dự lễ mà bánh thánh còn quá ít, cha đã không bẻ nhỏ bánh thánh. Ngược lại bình thản tiến ra cho rước lễ và đã cho tất cả các em rước lễ. Sau này người ta hỏi, ngài đã cám thấy thế nào trong lúc đó. Cha Bosco bình thản trả lời: “Cha cảm động, nhưng cha lấy lại bình tĩnh; vì cha nghĩ rằng truyền phép Thánh Thể là một phép lạ còn lớn hơn việc hóa bánh thánh ra nhiều. Vả lại có Mẹ Maria giúp đỡ cha”.
Một lần khác, mẹ Margarita quên luộc nhiều hạt giẻ trong buổi tối mà cha Bosco đã hứa với các thanh thiếu niên của cha sẽ được ăn. Làm sao bây giờ? Cha đã bình thản bốc phân phát cho bốn năm trăm em ăn hả hê. Đức Mẹ đã hành động qua cha!
Don Bosco vẫn thường khuyên nhủ mọi người mà cha gặp gỡ: “Hãy chạy đến với Mẹ Maria, Mẹ sẽ an ủi và chữa lành các con.” Lời khuyên ấy nhắc nhở chúng ta tới sức mạnh của lời cầu bầu của Mẹ trước Con của Mẹ tại tiệc cưới Cana, khi giờ của Thầy Giêsu chưa tới, nhưng vì Mẹ ngài đã thể hiện phép lạ đầu đời là biến nước thành rượu cho niềm vui của đời đôi bạn được trọn vẹn trong ngày cưới.
Trong đời của cha Bosco, Mẹ nhân lành đã thể hiện rất nhiều phép lạ qua bàn tay cha thánh, hầu cha có đủ tiền bạc nuôi sống cả ngàn thanh thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi, giúp cha có phương tiện mua đất, dựng nhà làm nơi cư trú cho lũ con mồ côi, bụi đời bị xã hội đẩy lui ra ngoài lề xã hội. Qua các phép lạ chữa lành, các nhà quí tộc đã tự động dâng hiến của cải và công sức cho Don Bosco, xây dựng đền thờ Mẹ phù hộ tại Torino, tượng Thánh Tâm Chúa vĩ đại trên đồi Tibi Dabo tại Barcelona, các cơ sở dòng. Và cuối cùng vâng lệnh Đức Thánh Cha Leo XIII, Don Bosco đi quyên góp để xây đền thờ Thánh Tâm Chúa tại Roma trong tuổi già.
Don Bosco thường xin con cái của mình cầu nguyện mỗi khi Ngài phải lo toan và đối đầu với những công cuộc. Cha thường nói với Mẹ Maria “Nào chúng ta cùng làm việc!” và Mẹ Maria đã làm việc của một hiền mẫu lo toan cho người con, người học trò và người môn sinh tín thác của Mẹ.
Trong cuộc sống của cha Bosco, những điều phi thường đã trở thành bình thường nhờ bàn tay can thiệp của Mẹ Maria.
Lược sử lễ kính Đức Maria phù hộ các giáo hữu
Lòng tôn kính Đức Maria dưới tước hiệu “Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu” đã có từ lâu trong giáo hội. Tuy nhiên, giáo hội chính thức thiết lập lễ kính Đức Mẹ Phù hộ trong phụng vụ vào ngày 24 tháng năm, bắt đầu từ năm 1816.
Vào những năm đầu của thế kỷ 19, Hoàng đế Napoleon Bonaparte đã bắt giam Đức Thánh Cha Piô VI và quản thúc Ngài trong tù và Ngài chết ở đó. Sau đó, Đức Thánh Cha Piô VII lên kế vị và cũng bị Napoleon tống giam. Từ năm 1809 đến năm 1812, tức trong suốt gần 5 năm trời, Đức Thánh Cha bị giam lỏng ở thành phố Savona, nước Ý. Ngài liên tục khấn xin Đức Mẹ ‘Đấng Phù hộ các giáo hữu’ che chở và giải cứu Ngài. Tại thành phố này, Ngài đến đặt một triều thiên trên tượng ‘Đức Mẹ của lòng Thương xót’ và xin Mẹ giúp Ngài được giải thoát.
Đến năm 1812, Ngài bị đưa sang Paris, nước Pháp và tiếp tục bị giam giữ tại Fontainbleau. Trong trại giam, Đức Thánh Cha bị hoàng đế Napoleon đối xử rất tồi tệ và vị tướng quân cao ngạo này đã dùng nhiều hình thức để lăng nhục Ngài. Ngài không thất vọng, nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng vào sự phù trợ của Đức Maria.
Chúa quan phòng đã an bài thật nhiệm mầu. Đến năm 1814, quân đội của Napoleon liên tục bị thất trận và quyền lực của ông bắt đầu suy yếu. Dưới áp lực của dân chúng, Napoleon bắt buộc phải phóng thích Đức Thánh Cha để Ngài trở về Rôma.
Trên con đường trở về điện Vatican, Ngài dừng chân tại Ancona và đến trước tượng “Nữ vương các thánh”, dâng lên Mẹ một cây phủ việt bằng vàng để tôn vinh quyền lực của Đức Maria, đồng thời diễn bày lòng tri ân Mẹ vì đã giải cứu Ngài. Vì thế, chúng ta thấy trên tượng Đức Mẹ Phù hộ có mũ triều thiên và một phủ việt cầm trên tay.
Để tri ân Người đã giải cứu mình, Đức Thánh Cha Piô VII chính thức thiết lập phụng vụ mừng kính Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu vào ngày 24.5 hằng năm, đồng thời cũng ghi nhớ ngày Ngài được Đức Mẹ giải thoát và trở về Rôma.
Đây cũng là thời điểm Don Bosco được sinh ra và lớn lên. Ngài luôn cổ xúy lòng yêu mến Đức Mẹ dưới tước hiệu trên. Ngài cũng hằng ghi nhớ sâu đậm giấc mơ 9 tuổi với hình ảnh một bà giáo là chính Mẹ Maria, người đã luôn đồng hành và dẫn dắt Ngài trong suốt cuộc đời. Cha Thánh cũng kể lại một giấc mơ nổi tiếng về con thuyền giáo hội lênh đênh giữa biển khơi đầy sóng gió. Con thuyền đó đã được gìn giữ an toàn khi được neo chặt vào 2 cột trụ. Cột thứ nhất có Thánh Thể ở trên với hàng chữ “Salus credentium – ơn cứu độ của những người tin” và trên cột bên kia có Đức Maria với hàng chữ “Auxilium christianorum – sự phù trợ của các Kitô hữu”. Với những trải nghiệm sâu xa trong cuộc sống, Don Bosco đã nói với các con cái mình: “Cứ tin tưởng vào Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria phù hộ, chúng con sẽ thấy phép lạ là gì”. Don Bosco cũng thành lập một dòng tu nam có tên là “tu hội Thánh Phanxicô Salê – SDB” và một dòng tu nữ có tên là “Dòng con Đức Mẹ Phù hộ – FMA”.
Ngày nay, lòng sùng kính Đức Mẹ với tước hiệu “Mẹ phù hộ các giáo hữu” đã lan tỏa khắp nơi trong giáo hội công giáo. Ngay ở Việt Nam, tại La vang hay tại Trà kiệu, Đức Mẹ cũng đã ra tay can thiệp để che chở giáo dân, và khi hiện ra tại những nơi này, Đức Mẹ cũng mang hình dáng của “Đấng Phù trợ các tín hữu”. Xin Mẹ bảo toàn đức tin nơi mỗi người chúng ta.